Thương mại điện tử 2011-2015: Phát triển chiều sâu

Kế hoạch phát triển TMĐT giai đoạn 2011-2015 được Cục TMĐT và CNTT đặt ra với mục tiêu lớn hơn và tầm nhìn xa hơn dựa trên kết quả và kinh nghiệm của giai đoạn trước.

Tiền đề thuận lợi

Đến cuối năm 2009, khung pháp lý về TMĐT đã được hoàn thiện: Luật Giao dịch điện tử (2005) và Luật Công nghệ thông tin (2006), 7 nghị định hướng dẫn và hàng loạt thông tư quy định chi tiết những vấn đề đặc thù của giao dịch TMĐT. Bên cạnh đó, khung chế tài trong các lĩnh vực thương mại, CNTT và Internet cũng dần được hoàn thiện với 3 nghị định về xử phạt hành chính. Năm 2009 Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, thêm một số tội danh và nâng cao hình phạt tội phạm công nghệ cao, trong đó có tội phạm TMĐT. 

Các chủng loại hàng hóa và dịch vụ TMĐT phổ biến hiện nay là: vé máy bay, hàng điện - điện tử, đồ nội thất, điện thoại di động, máy tính, sách, tour du lịch, đặt phòng khách sạn...

Chính sách về ứng dụng TMĐT trong mua sắm của Chính phủ cũng đã thành hình, thông tin chào mời mua sắm công được công bố trên website của các bộ ngành và UBND các tỉnh, thành phố. Các dịch vụ công trực tuyến đã phát triển hiện nay có: Hải quan điện tử, khai thuế qua mạng và chứng thực xuất xứ (C/O) điện tử. Ở cấp bộ ngành, 27 dịch vụ công trực tuyến đạt mức độ 3 (cho phép điền và gửi trực tuyến các mẫu đơn, hồ sơ; mức độ 4 cho phép thanh toán trực tuyến, gửi và nhận kết quả qua mạng). Ở cấp địa phương, 38 địa phương triển khai cung cấp 748 dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 3 (dẫn đầu là An Giang và Đà Nẵng).

Kết quả khảo sát 3.400 DN trên cả nước của Bộ Công Thương năm 2010 cho thấy 60% doanh nghiệp (DN) lớn đã tiến hành TMĐT B2B, trong đó 95% nhận đơn đặt hàng qua các phương tiện TMĐT, 96% sử dụng thư điện tử trong kinh doanh. Đối với DN vừa và nhỏ (SME), 80% DN hoạt động theo hình thức B2B (DN-DN) hoặc B2C (DN-Người dùng). Hộ gia đình, cá nhân tham gia B2C hoặc C2C chiếm 10%. Rất nhiều DN triển khai bán hàng trực tuyến, dẫn đầu là DN ngành hàng không, du lịch, phân phối, bán lẻ hàng tiêu dùng... 

Giao dịch TMĐT hiện nay được thực hiện chủ yếu thông qua các website của DN, sàn giao dịch TMĐT, mạng xã hội. Dịch vụ viễn thông di động cũng phát triển mạnh và thu hút người dùng là điều kiện thuận lợi thúc đẩy TMĐT trên điện thoại di động.

Đặt mục tiêu lớn

Kế hoạch phát triển TMĐT giai đoạn 2011-2015 được Cục TMĐT và CNTT đặt ra với mục tiêu lớn hơn và tầm nhìn xa hơn dựa trên kết quả và kinh nghiệm của giai đoạn trước. Cụ thể như sau:

Với khối cơ quan nhà nước, trước năm 2013, các dịch vụ công đạt mức độ 3 sẽ gồm: 80% dịch vụ công như thủ tục hải quan điện tử, thuế, đăng ký kinh doanh - đầu tư và xuất nhập khẩu (trong đó 40% xuất nhập khẩu đạt mức 4 vào năm 2015); 50% dịch vụ công sản xuất kinh doanh (trong đó 20% đạt mức độ 4 năm 2015). 

Cả nước hiện có 77 cơ sở đào tạo TMĐT chính quy, 2 trường đại học chính quy thành lập khoa TMĐT và 14 trường chính quy có môn TMĐT.

Đối với DN lớn, nâng tỉ lệ sử dụng thư điện tử lên 100%, 80% có website, 70% mua bán trên website TMĐT, 20% ứng dụng TMĐT trong quản trị DN... Riêng DN vừa và nhỏ, tỉ lệ sử dụng thư điện tử phải đạt 100%, giao dịch trên website TMĐT 30%... 

Với người dùng, vào năm 2015, sẽ hình thành các tiện ích hỗ trợ người dùng tham gia B2C. Cụ thể là 70% siêu thị, trung tâm mua sắm áp dụng thanh toán không dùng tiền mặt, 50% các đơn vị cung cấp dịch vụ điện, nước, viễn thông và truyền thông chấp nhận thanh toán phí dịch vụ qua phương tiện điện tử. Mặt khác, 30% các cơ sở kinh doanh vận tải, văn hóa, thể thao, du lịch phát triển các kênh giao dịch điện tử phục vụ người tiêu dùng.

Với kế hoạch định hướng cụ thể như trên, đến hết tháng 3/2011, trong số 63 tỉnh thành trên cả nước, 34 tỉnh thành đã phê duyệt kế hoạch phát triển TMĐT 2011-2015, 17 địa phương đã xây dựng kế hoạch chờ phê duyệt và 12 địa phương đang trong quá trình xây dựng.

Sẽ có thanh tra chuyên ngành

So với Kế hoạch Phát triển TMĐT 2006-2010 (Quyết định 222/2005/QĐ-TTg), giai đoạn 2011-2015 (Quyết định 1073) có nhiều điểm khác biệt. Cụ thể: Về pháp lý, QĐ 1073 tập trung xây dựng các quy định chi tiết, điều chỉnh những vấn đề pháp lý TMĐT đặc thù, chi tiết so với việc xây dựng khung pháp lý cơ bản (giai đoạn triển khai QĐ 222). Về tuyên truyền đào tạo, trước đây, chủ yếu tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức TMĐT thì nay, tập trung đào tạo chính quy tại các trường đại học và cao đẳng. Với dịch vụ công trực tuyến, QĐ 222 mới dừng ở mức phác thảo các hoạt động cần triển khai, QĐ 1073 sẽ đưa ra mục tiêu định lượng và các giải pháp cụ thể khi triển khai. Về phát triển, ứng dụng công nghệ, đề ra các giải pháp, hoạt động cần triển khai với từng công nghệ cụ thể.

Đặc biệt, về bộ máy tổ chức quản lý nhà nước về TMĐT, trước đây chưa đề cập thì nay, tập trung kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về TMĐT, bao gồm thành lập thanh tra chuyên ngành, phân công cán bộ chuyên trách để tăng cường năng lực quản lý nhà nước tại địa phương của các sở công thương.